Hơi nóng lưu huỳnh từng cuộn bốc lên nghi ngút ban nãy bỗng chốc loãng dần theo làn gió ngầm hút ngược lên trần hang.
Tôi đứng chôn chân trên đỉnh gò bát giác, hai bàn tay thô ráp vẫn còn vương những vụn đá lấp lánh của khối Mộc Hoàng Lôi Tâm Thạch. Toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi, lớp áo bảo hộ lao động dính chặt vào lồng ngực đang phập phồng sau cú dồn lực sinh tử. Dưới chân tôi, khối lôi thạch vừa được cắm ngập vào khe nứt bazan tỏa ra từng gợn sóng lục kim ấm áp, tựa như một trái tim khổng lồ đang đập những nhịp khoan thai, xoa dịu cơn co giật địa tầng của lòng núi lửa Chư Yang Sin.
Thế nhưng, đôi mắt tôi không tài nào rời khỏi khoảng đáy hồ khoáng vừa rút cạn nước.
Cách chân gò đá bát giác chừng năm bước chân, lớp bùn khoáng xám tro trôi tuột theo những rãnh thoát ngầm, phơi bày một vòng tròn hợp kim khổng lồ có đường kính ngót nghét mười mét.
Đó là một khối cơ quan cơ khí tráng lệ và lạnh lẽo đến sững sờ.
Nó nằm ôm trọn lấy phần chân đế của gò đá bazan, phẳng lì như một vành đai bánh răng công nghiệp được đúc bằng hợp kim titan-niken chống ăn mòn cực hạn. Dưới ánh sáng lục kim dịu dàng từ khối lôi thạch rọi xuống, bề mặt kim loại không hề có một vảy rỉ sét nào, chỉ ánh lên sắc xám bạc lỳ lợm của loại thép chịu nhiệt chuyên dùng trong kỹ thuật khoan thăm dò đáy biển sâu.
Xung quanh vành đai cơ quan ấy là ba mươi sáu bu-lông lục giác cỡ lớn, mỗi chiếc to bằng bắp tay người lớn, cắm sâu vào vỉa đá móng bằng phương pháp nêm nở thủy lực.
Và ngay trên tấm biển tên bằng thép không gỉ dày hai phân gắn chặt vào thân vòng tròn, từng nét chữ dập nổi bằng máy đột công nghiệp hiện đại hiện lên rõ mồn một, sắc cạnh và sạch sẽ đến mức đối nghịch hoàn toàn với khung cảnh hoang sơ ngàn năm của lòng chảo núi lửa:
PROJECT EARTH-SEAL // SECTOR 04 - CHU YANG SIN // ANCHOR CORE V.2026
Dự án Earth-Seal. Phân khu số 4 — Chư Yang Sin. Cụm neo hạch tâm phiên bản 2026.
Làn không khí ẩm lạnh thốc vào khoang mũi buốt rát, lồng ngực tôi thắt lại.
Năm 2026 chính là năm nay!
Giữa một vùng rừng nguyên sinh rậm rạp bậc nhất Tây Nguyên, nơi ngay cả những thợ săn thiện nghệ người Ê Đê như già Y Dăm cũng chỉ dám lần theo dấu vết thú rừng ven sườn ngoài, làm sao có thể tồn tại một công trình cơ khí ngầm quy mô khủng khiếp đến thế này? Ai đã vận chuyển hàng chục tấn hợp kim chịu nhiệt cùng dàn máy ép thủy lực vào sâu dưới lòng ống dung nham số 3 mà không để lại bất kỳ dấu vết nào trên mặt đất?
Tôi thận trọng bước từng bước chậm rãi từ đỉnh gò đá xuống đáy lòng chảo. Đôi ủng cao su dẫm lên lớp bùn khoáng bazan phát ra những tiếng lép bép ẩm ướt. Nhiệt độ của lớp đá dưới chân đã hạ từ sáu mươi độ xuống chỉ còn âm ấm như mặt đường nhựa sau cơn mưa rào, không còn nguy cơ làm nổ tung đế giày bảo hộ.
Tôi quỳ một chân xuống mặt bùn, đưa bàn tay trần chạm vào bề mặt vòng tròn hợp kim.
Lớp thép mát lạnh truyền qua da thịt, mang lại một cảm giác chân thực đến gai người.
Tôi miết đầu ngón tay dọc theo đường rãnh tiện ren của chiếc bu-lông lục giác gần nhất. Đầu ngón tay tôi bỗng khựng lại.
Là một người lớn lên bên cạnh xưởng mộc của cha ở cù lao Tiền Giang, từng nhiều năm theo cha cưa từng thớ gỗ mù u, mài từng lưỡi đục thép nhíp xe Zil, tôi quá đỗi quen thuộc với cảm giác của những đường gia công cơ khí chính xác. Trên bề mặt của chiếc bu-lông hợp kim siêu cứng này, mép vát cạnh không phải là đường cắt vát hoàn toàn trơn tuột của máy tiện CNC hiện đại điều khiển bằng máy tính.
Ở phần chân ren ăn sâu vào đá bazan, có một góc lượn vát nghiêng ba mươi độ được sửa lại bằng tay. Nét giũa mịn như lụa, tì đè với một lực đạo đều đặn đến mức hoàn mỹ, chỉ để lại những đường vân xước tế vi hình bán nguyệt — kiểu vát ren thoát phoi thủ công đặc trưng mà ngày xưa cha tôi vẫn hay làm mỗi khi chế tạo các chốt mộng thép gia cố cho thuyền gỗ vượt sóng lớn.
Tôi run rẩy đưa ngón tay chạm vào một ký hiệu nhỏ xíu được đóng chìm bằng đục thép ở góc dưới tấm biển tên.
Một chữ "H" hoa lồng trong một hình tròn nhỏ, bên cạnh là một hình triện vuông tí hon bằng hạt đậu xanh.
Đó là dấu triện của cha tôi — Nguyễn Văn Hùng!
"Cha..."
Cổ họng tôi khô khốc, một tiếng gọi nghẹn ngào bật ra giữa không gian tĩnh lặng của đáy vạc.
Bức ảnh chụp đoàn khảo sát ba mươi năm trước mà tôi cất trong túi áo ngực bỗng nóng bừng lên. Ba mươi năm trước, năm 1996, cha tôi đã cùng các nhà khoa học của Viện Khảo sát Địa chất đặt chân đến cánh rừng này. Họ đã khảo sát vết đứt gãy, đã đo đạc những chấn động sâu trong lòng đất. Nhưng công trình này lại mang số hiệu phiên bản 2026!
Điều đó có nghĩa là gì? Bản thiết kế và những linh kiện cốt lõi này đã được cha tôi cùng các bậc tiền bối chế tác, rồi sau đó được các thế hệ kỹ sư thực địa tiếp nối, hoàn thiện và bí mật lắp đặt vào trận nhãn này theo chu kỳ địa chấn được dự báo chính xác cho năm nay?
Trong thức hải của tôi, tà áo lụa trắng của Lâm Tịch khẽ lay động trên đài sen Lục Diệp Thanh Liên. Đôi mắt phượng của nàng nhìn xuyên qua tâm thức tôi, chăm chú quan sát vòng tròn hợp kim khổng lồ dưới chân:
— Thật phi thường...
Thanh âm truyền âm của nàng trầm lắng, chứa đựng một sự kinh ngạc chưa từng có:
— Ta từng nghĩ phàm nhân thời nay chỉ biết dựa dẫm vào máy móc thô kệch bên ngoài mà quên mất đạo lý hòa hợp với trời đất. Nhưng kẻ tạo ra vòng tròn kim loại này đã dùng tri thức thạch học và cơ khí trần gian để mô phỏng lại đúng thế trận 'Cửu Cung Khóa Địa' của viễn cổ. Ba mươi sáu chiếc chốt thép kia cắm đúng vào ba mươi sáu huyệt đạo lưu chuyển địa khí của lòng vạc. Chúng không hề phá hủy long mạch, mà dùng chính trọng lực và sức căng của hợp kim để neo giữ lớp vỏ đá nứt nẻ, ngăn không cho dung nham trào dâng.
Nàng khẽ thở dài một tiếng, ánh mắt nhìn tôi tràn đầy vẻ dịu dàng thấu hiểu:
— Cha của anh và những người đồng hành của ông ấy không chỉ là những người thợ. Họ là những người gác cổng thầm lặng của trần gian. Họ biết rõ sức mạnh của đá cổ có giới hạn, nên đã dùng chính bàn tay và trí tuệ phàm nhân để dựng nên một bộ khung thép, chờ đợi ngày anh mang khối Mộc Tâm này đến khép kín mắt trận.
Lời nói của Lâm Tịch như một dòng nước mát rót thẳng vào tâm can, làm tan biến mọi nỗi hoang mang trong lòng tôi.
Tôi đứng thẳng dậy, soi đèn pin bão dọc theo thân vành đai hợp kim.
Tại góc hướng chính bắc của vòng tròn — đối diện thẳng với vách đá dựng đứng của ống dẫn dung nham số 3 — tôi phát hiện một chiếc hộp cơ khí hình trụ tròn bằng kim loại dày cộp, kích thước cỡ bằng chiếc cặp lồng cơm dã chiến. Chiếc hộp được gắn chặt vào khung thân bằng bốn chốt khóa bật cơ học, bên ngoài bọc một lớp gioăng cao su chịu nhiệt màu cam đã ngả màu vì khói lưu huỳnh.
Tôi ngồi xổm xuống, gạt bốn chốt khóa.
Tách! Tách! Tách! Tách!
Những tiếng bật tanh tách khô khốc vang lên giòn giã giữa lòng hang. Nắp hộp kim loại bật mở, một làn khí ni-tơ bảo quản xì nhẹ ra ngoài mang theo mùi dầu máy công nghiệp quen thuộc.
Bên trong khoang chứa chống sốc lót đệm cao su xốp, không có vàng bạc hay bảo vật thần bí.
Chỉ có hai vật dụng bình dị được đặt ngay ngắn: một thiết bị ghi chép địa chấn cơ học dạng trống quay dùng dây cót cơ khí bằng thạch anh, và một cuốn sổ nhật ký thực địa bọc bìa vải dầu màu xanh ô-liu đã cũ mòn bốn góc.
Bàn tay tôi run run nhấc cuốn sổ bìa vải dầu lên. Trên trang bìa cứng, dòng chữ viết tay bằng mực dạ dầu màu đen vẫn còn đậm nét:
NHẬT KÝ THEO DÕI ĐỊA CHẤN ĐỚI ĐỨT GÃY SỐ 4 — CHƯ YANG SIN
Đội Khảo sát Địa chất Chuyên đề Sâu // Trạm Quan trắc Cơ động
Tôi cẩn thận lật từng trang giấy can dày cộp chống ẩm.
Trang đầu tiên ghi lại những thông số trắc địa từ tháng Mười một năm 1996, với nét chữ chân phương của thầy Trịnh Hoài Nam thời còn là một kỹ sư địa chất trẻ và chữ ký xác nhận của thợ cơ khí chính: Nguyễn Văn Hùng. Họ đã ghi chép chi tiết về cấu trúc ống dung nham bazan, về các túi khí thán khí nguy hiểm và dự báo về một chu kỳ bộc phát địa nhiệt kéo dài đúng ba mươi năm.
Nhưng khi tôi lật đến những trang cuối cùng, ngày tháng ghi trên góc trang giấy khiến tim tôi đập thình thịch:
Ngày 18 tháng 8 năm 2026.
Đó là những dòng ghi chép mới toanh, chỉ cách thời điểm hiện tại chưa đầy ba tháng!
Nét chữ lần này thanh mảnh hơn, viết bằng bút bi xanh của một kỹ sư trẻ thuộc thế hệ chúng tôi. Nhật ký ghi nhận đội công tác đã hoàn tất việc hiệu chỉnh ba mươi sáu cụm neo thủy lực Anchor Core V.2026 tại đáy vạc Chư Yang Sin theo đúng đồ án lưu trữ năm 1996 của cha tôi. Cấu trúc vành đai hợp kim chịu lực ổn định ở mức nhiệt độ 280 độ C.
Tuy nhiên, phần cảnh báo bên dưới lại được gạch chân hai lần mực đỏ:
Tần số dao động hạ âm 0.08 Hertz dưới lòng ống dẫn dung nham đang có dấu hiệu khuếch đại theo cấp số nhân. Vòng tròn cơ học chỉ có thể neo giữ cấu trúc đá mẹ trong giới hạn chịu tải tối đa chín mươi ngày. Nếu sau tiết Sương Giáng mà dao động không giảm, áp lực magma sẽ bẻ gãy toàn bộ bu-lông neo, gây phun trào dây chuyền dọc theo mạng lưới đứt gãy Nam Trung Bộ.
Phía dưới cùng là dòng ghi chú đặc biệt bằng nét chì của Viện trưởng:
Mọi thông số khoa học đã đạt tới hạn của kỹ thuật cơ khí phàm trần. Chiếc khóa này đã sẵn sàng. Phần còn lại... chỉ còn biết trông cậy vào người giữ thanh Trấn Thủy Đoản Đao và khối Mộc Tâm từ phương Nam trở về...
Đọc đến dòng chữ cuối cùng, sống mũi tôi cay xè, những ngón tay siết chặt lấy mép cuốn sổ bọc vải dầu.
Hóa ra là như vậy.
Không hề có một sự tình cờ nào trong hành trình gian nan này. Những người thầy, những người cha, những thế hệ kỹ sư địa chất đi trước đã dùng cả cuộc đời và trí tuệ của họ để âm thầm chống đỡ cho sự bình yên của non sông này. Họ đo đạc từng milimét dịch chuyển của lòng đất, họ dùng mồ hôi và sắt thép để chế tạo nên chiếc cùm khóa cơ học này, kiên nhẫn chờ đợi hạt giống mà họ gieo xuống ba mươi năm trước nảy mầm.
Tôi nâng thanh Trấn Thủy Đoản Đao đeo bên hông lên. Lớp vỏ bao bằng đồng thau nứt rạn ánh chỉ vàng áp sát vào lòng bàn tay tôi ấm áp.
Dưới đáy hộp kim loại, cạnh vị trí đặt cuốn sổ, có một rãnh tra then cơ học hình chữ nhật dài đúng một gang tay, được khoét sâu vào trục van thủy lực trung tâm của vòng tròn hợp kim. Kích thước và đồ án triện cổ trên miệng rãnh tra then ấy trùng khớp tuyệt đối với lưỡi thanh đoản đao gia bảo của cha tôi.
Tôi hít một hơi không khí ẩm lạnh của lòng hang, bước tới trước rãnh tra then, nắm chặt chuôi Trấn Thủy Đoản Đao chậm rãi tra lưỡi dao đồng vào khe cơ khí.
Cạch!
Một tiếng khớp then kim loại vang lên giòn tan, chuẩn xác đến từng phần mười milimét.
Tôi nín thở điều hòa nhịp tim đang đập dồn dập trong lồng ngực, thúc giục Thuần Dương Cương Huyết vừa thức tỉnh trong cơ thể. Ba mươi ba đốt sống tủy ngọc sau lưng tôi nóng bừng lên, một dòng nhiệt lượng thuần dương ấm áp từ đan điền cuộn trào qua các kinh mạch cánh tay, rót thẳng vào chuôi dao.
"Mở mạch khóa địa!"
Tôi gầm nhẹ một tiếng, hai cánh tay gồng cứng như sắt nguội, xoay mạnh chuôi Trấn Thủy Đoản Đao theo chiều kim đồng hồ một góc chín mươi độ!
Rắc... rắc... keng!
Tiếng bánh răng hợp kim chuyển động trầm đục vang lên từ sâu dưới đáy lòng chảo. Ba mươi sáu chiếc bu-lông nêm nở thủy lực xung quanh vòng tròn đồng loạt siết chặt lại, kéo căng toàn bộ mạng lưới cáp thép chịu lực ngầm dưới lòng đất.
Cùng lúc đó, khối Mộc Hoàng Lôi Tâm Thạch trên đỉnh gò bát giác bỗng phóng thích ra một làn sương mù màu xanh ngọc bích, tràn xuống bao phủ lấy toàn bộ vòng tròn kim loại. Năng lượng địa lôi cổ xưa và cơ cấu kỹ thuật hiện đại của con người chạm vào nhau, không hề bài xích mà hòa quyện làm một. Từng đường rãnh ren, từng con ốc vít của cỗ máy phàm trần được dòng lôi điện màu lục kim tôi luyện, ánh lên một lớp màng bảo hộ trong suốt như thủy tinh.
Một tiếng thở phào nhẹ nhõm như thể cả quả núi khổng lồ vừa trút bỏ được gánh nặng ngàn năm lan tỏa khắp không gian.
Mặt đất dưới chân tôi hoàn toàn phẳng lặng. Tiếng rít the thé của địa lôi tắt ngấm. Mùi khét lẹt biến mất, chỉ còn lại làn gió núi mát rượi từ các khe thông gió tự nhiên thổi lùa qua vòm đá, mang theo hương thơm ngai ngái của rêu rừng và hoa dại đầu nguồn.
Tôi cẩn thận cất cuốn sổ nhật ký thực địa vào sâu trong ngăn chống nước của ba lô, rút thanh Trấn Thủy Đoản Đao tra lại vào bao rồi cúi đầu vái tạ khối Mộc Tâm và gò đá bát giác một lạy.
Nhiệm vụ tại Đáy Vạc Chư Yang Sin đã hoàn thành trọn vẹn.
Tôi xoay người, bám vào những gờ đá bazan nguội lạnh men theo lối mòn trèo ngược trở lên cửa vòm ống dung nham số 3. Quãng đường rút lui nhẹ nhàng hơn lúc tiến vào rất nhiều; khí độc đã tan bớt, nhiệt độ trong đường hầm hạ xuống mức mát mẻ dễ chịu.
Nửa tiếng sau, ánh sáng vàng ấm áp của ngọn đèn bão dã chiến hiện ra nơi khúc quanh của Hang Dơi.
Già Y Dăm đang ngồi tựa lưng vào vách đá, tay nắm chặt cây nỏ săn bóng loáng, đầu gật gù trong cơn mệt mỏi. Nghe thấy tiếng bước chân ủng cao su dẫm trên đá dăm lạo xạo, ông già giật thót người choàng tỉnh, mũi tên nỏ lập tức giương lên trong bóng tối. Nhưng khi nhận ra bóng dáng quen thuộc của tôi bước ra từ cửa hầm, đôi mắt đục mờ của người thợ săn già bỗng chốc ứa nước mắt.
— Ơi An... Mày... mày còn sống về được rồi!
Già buông cây nỏ, lập cập bước tới nắm chặt lấy hai bả vai tôi, bàn tay đen nhẻm run rẩy sờ khắp ngực áo để kiểm tra thương tích:
— Tao ở ngoài này nghe tiếng sấm nổ đùng đùng trong ruột núi, tưởng đâu vạc lửa vỡ tung rồi chứ! Mà sao tự nhiên... gió trên trần hang nó thổi mát rượi thế này? Tiếng con cọp gầm dưới đất cũng nín bặt rồi?
Tôi mỉm cười, đưa tay đỡ lấy già Y Dăm ngồi xuống tảng đá phẳng:
— Dạ, yên ổn hết rồi già. Mạch lửa dưới vạc đã nguội, đá Chư Yang Sin ngủ yên rồi, buôn làng mình từ nay không sợ động đất nứt nhà nữa đâu.
Già Y Dăm ngửa mặt lên vòm hang đá, chắp hai tay trước ngực thầm cất lời tạ ơn thần rừng Yang hùng vĩ bằng tiếng Ê Đê. Đoạn, già với lấy ống nứa đựng nước ngô rang treo bên hông, mở nắp đưa cho tôi:
— Uống miếng nước cho lại sức đi con. Uống đi, nước ngô già rang từ rẫy nhà tao đó, ngọt lắm.
Tôi đón lấy ống nứa, uống một ngụm lớn. Vị ngọt thanh của ngô nương hòa cùng mùi khói củi lan tỏa nơi đầu lưỡi, xua tan đi tất cả những mệt mỏi rã rời sau một đêm sinh tử dưới lòng đất.
Hai bác cháu thu dọn đồ đạc, dập tắt ngọn đèn bão rồi lần theo lối cửa hang dơi bước ra ngoài sườn núi.
Khi chúng tôi bước qua khỏi vòm cây rậm rạp che kín miệng hang, một luồng ánh sáng ban mai tinh khôi ùa tới, rọi thẳng vào gương mặt phong trần của tôi.
Mặt trời đã bắt đầu nhô lên khỏi rặng núi phía đông. Những tia nắng vàng như rót mật xuyên qua biển mây bồng bềnh phủ trắng các thung lũng Krông Bông, dát một lớp viền vàng rực rỡ lên những tán cây pơ-mu cổ thụ ngàn năm tuổi. Đại ngàn Chư Yang Sin thức giấc trong tiếng chim hót véo von và tiếng suối reo róc rách xa xa.
Tôi đứng trên mỏm đá cao nhìn ngắm non sông gấm vóc trải dài dưới chân, trong lòng dâng lên một niềm thanh thản vô bờ.
Đột nhiên, từ chiếc máy bộ đàm trắc địa tầm xa đeo bên hông ba lô của tôi, một chuỗi âm thanh rè rè vang lên, phá tan sự tĩnh lặng của buổi sớm mai.
Tít... tít... rẹt...
Một tín hiệu xung mã Morse địa chấn vang lên đứt quãng, kèm theo một giọng nói quen thuộc gào lên qua làn sóng ngắn, âm thanh run rẩy vì xúc động tột cùng:
— Minh An! Minh An! Em có nghe rõ không?! Đây là Tuấn búa tạ đây! Trời Phật ơi, đồ thị vi chấn ở đáy vạc Chư Yang Sin vừa sập về mức 0 tuyệt đối! Cả quả núi nín bặt rồi! Em với già Y Dăm còn sống không?! Mau trả lời đi thằng quỷ nhỏ!
Ngay sau tiếng gào của anh Tuấn, giọng nói trầm ấm nhưng run rẩy của Viện trưởng Trịnh Hoài Nam cũng chen vào ống nghe:
— Minh An... Cậu bình an chứ? Đêm qua sấm sét nổ rách trời, tôi và cậu Tuấn ở trạm kiểm lâm lo đến thắt ruột thắt gan...
Tôi đưa tay bấm nút đàm thoại, mỉm cười ấm áp:
— Báo cáo Viện trưởng, báo cáo anh Tuấn: Tôi và già Y Dăm đều bình an vô sự. Hạch tâm đáy vạc Chư Yang Sin đã được an vị hoàn toàn, mạch lửa ngầm đã ngủ yên. Chúng tôi đang men theo sườn đông hạ sơn trở về trạm!
— Tốt rồi! Tốt lắm con ơi! — Tiếng Viện trưởng Nam nghẹn ngào bên kia đầu sóng: — Hai bác cháu cẩn thận vách trơn. Tôi với Tuấn đánh xe ra tận bìa rừng đón!
Tôi buông phím bộ đàm, nhìn sang già Y Dăm. Người thợ săn già mỉm cười đôn hậu, gật đầu ra hiệu.
Hai bác cháu men theo lối mòn vách đá thoăn thoắt hạ sơn. Trời sáng rõ, sương tan dần trên những thảm dương xỉ xanh mướt. Nhờ có luồng Thuần Dương Cương Huyết nâng đỡ từng bước chân, tôi vừa đi vừa đỡ lấy cánh tay già Y Dăm mỗi khi bước qua những đoạn dốc dựng đứng, giúp đôi chân già nua bớt phần mỏi mệt.
Gần hai tiếng đồng hồ sau, tiếng gầm rú quen thuộc của chiếc xe bán tải hai cầu của Viện Khảo sát Địa chất đã vọng lại từ bìa rừng Krông Bông.
Dưới khoảng sân đất đỏ trước trạm kiểm lâm dã chiến, chiếc xe bán tải màu ghi xám đỗ xịch bên gốc cây kơ-nia đại thụ. Vừa thấy bóng dáng hai bác cháu bước ra khỏi vòm lá rậm rạp, một bóng người to lớn vạm vỡ liền quẳng phăng chiếc cờ-lê đang cầm trên tay xuống bãi cỏ, lao bổ về phía tôi như một con gấu rừng.
— Thằng quỷ nhỏ! Mày làm tao muốn trụy tim cả đêm!
Anh Tuấn búa tạ dang hai cánh tay rắn như thép nguội ôm chầm lấy tôi, bàn tay hộ pháp vỗ bôm bốp vào lưng tôi đến nghẹn thở. Đôi mắt thô ráp của gã thợ máy kỳ cựu đỏ hoe vì thức trắng đêm nhìn màn hình địa chấn, trên má vẫn còn dính vệt dầu mỡ đen sì:
— Đêm qua tao thấy trên đỉnh núi nổ đùng đùng, cột lửa tím bốc cao cả trăm mét, tao đòi vác búa tạ xông lên tìm mày mà thầy Nam với mấy anh kiểm lâm ghì chặt lại! May quá... Mày mà có bề gì thì tao biết ăn nói làm sao với thím Ba dưới cù lao Tiền Giang!
— Em đã bảo là em sống dai lắm mà, anh Tuấn lo bò trắng răng! — Tôi cười xòa, vỗ mạnh vào bờ vai vạm vỡ của anh.
Phía sau anh Tuấn, Viện trưởng Trịnh Hoài Nam chậm rãi bước tới.
Mái tóc hoa râm của người thầy già rối bời vì sương gió, chiếc áo khoác dã chiến khoác hờ trên vai. Đôi mắt ông trũng sâu vì mất ngủ, nhưng khi nhìn thấy tôi lành lặn đứng đó, đôi môi ông run run, hai bàn tay gầy gò vươn ra nắm chặt lấy hai bả vai tôi:
— Về được là tốt rồi... Về được là phúc lớn của non sông rồi con ạ...
Tôi gật đầu, tháo chiếc ba lô dã chiến nặng trịch đặt lên nắp ca-pô chiếc xe bán tải. Trước ánh mắt ngỡ ngàng của Viện trưởng Nam và anh Tuấn, tôi cẩn thận rút chiếc ống nhôm niêm phong dán băng keo vải màu xanh quân đội đã ngả vàng từ đáy ba lô ra.
— Thầy Nam... Đêm qua sạt lở ở Vực Thần Sấm đã để lộ ra chiếc cọc mốc địa chất năm 1996. Con tìm thấy chiếc ống này chôn sâu dưới chân cọc mốc.
Đôi mắt Viện trưởng Trịnh Hoài Nam bỗng chốc trợn trừng. Khi nhìn thấy dòng chữ khắc nổi và lớp thiếc hàn niêm phong trên thân ống nhôm, toàn thân ông lão run bắn lên như bị sét đánh:
— Đây... Đây là chiếc ống bảo mật của đoàn khảo sát năm chín sáu... Chiếc ống của anh Hùng!
Tôi mở nắp ống nhôm, cung kính hai tay dâng cuốn sổ nhật ký thực địa bọc da màu nâu và bức ảnh đen trắng ố vàng trao vào tay Viện trưởng.
Bàn tay già nua của người viện trưởng run rẩy lật mở trang đầu tiên. Khi bức ảnh ba người đàn ông thời trai trẻ hiện ra dưới ánh mặt trời rực rỡ — già Y Dăm ngực trần, ông mặc áo lính và cha tôi nở nụ cười hiền hậu — hai giọt nước mắt nóng hổi bỗng lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo của Viện trưởng Trịnh Hoài Nam.
— Anh Hùng ơi... — Ông nghẹn ngào gọi tên người bạn cố tri, ngón tay run run miết lên gương mặt cha tôi trong ảnh: — Ba mươi năm rồi... Đúng là nét chữ của anh... Con trai anh đã lớn khôn, đã tự tay mang búa đục của anh về vá lại vết nứt non sông rồi anh ơi...
Anh Tuấn búa tạ đứng bên cạnh cũng lặng người đi, tháo chiếc mũ lưỡi trai kẹp vào nách, cúi đầu trước di vật của thế hệ tiền nhân.
Viện trưởng Nam lau vội nước mắt, lật tiếp những trang giấy can vẽ tay chi tiết về mạng lưới đới đứt gãy. Khi ngón tay ông lật đến trang sơ đồ đới đứt gãy thềm lục địa duyên hải, một tấm ảnh đen trắng thứ hai rơi ra từ khe kẹp sổ tay.
Bức ảnh chụp cha tôi bên mạn một chiếc thuyền gỗ lớn ngoài khơi biển xanh, cánh tay gân guốc đang khoác vai một người đàn ông vạm vỡ mặc áo lặn cao su dày cộp. Trên cổ tay người thợ lặn ấy, chiếc đồng hồ lặn quân sự mặt tròn vỏ bát giác lấp lánh dưới nắng biển.
Viện trưởng Trịnh Hoài Nam nhìn tấm ảnh, giọng chùng xuống đầy xúc động:
— Các cậu nhìn đây. Năm chín sáu, sau khi cắm cọc mốc Chư Yang Sin, anh Hùng và tôi cùng đoàn đã xuôi về Phú Yên để khảo sát thềm lục địa Hòn Yến. Ở đó, anh Hùng đã kết nghĩa anh em sinh tử với người thợ lặn giỏi nhất xứ Nẫu — anh Trần Vũ Cương. Chính anh Cương đã liều mạng lặn sâu năm mươi mét cắt đứt dây cáp cứu kẹt mũi khoan, cứu sống anh Hùng và toàn bộ kíp nghiên cứu. Trước khi rời đi, anh Hùng đã tự tay dùng dao tiện ren vát lại nắp lưng chiếc đồng hồ lặn Liên Xô tặng lại anh Cương làm kỷ vật.
Ông lão ngước nhìn tôi, trao tấm ảnh vào tay tôi:
— Anh Hùng đã tính toán chuẩn xác từ ba mươi năm trước. Đới đứt gãy bazan Nam Trung Bộ là một thể liên hoàn. Miệng vạc Chư Yang Sin này là Sector 04. Khi khối Mộc Tâm được đóng chặt xuống lòng núi lửa, toàn bộ áp lực magma ngầm bị chặn lại sẽ tạo ra hiệu ứng kích dồn sóng áp suất dọc theo thềm lục địa, dồn thẳng về phía đới rạn nứt bazan ngầm ngoài khơi đảo Hòn Yến thuộc tỉnh Phú Yên — tức là Sector 05! Nay anh Cương tuổi cao sức yếu, nhưng con gái anh ấy — kỹ sư Trần Vũ Hải Yến, một thợ lặn cừ khôi do đích thân tôi điều động — đang túc trực tại trạm thủy văn Vịnh Xuân Đài chờ đón chúng ta. Cậu giữ lấy tấm ảnh này, đến nơi đưa cho con bé xem, nó sẽ hiểu người nhà của bác Hùng đã về!
Tôi trân trọng đón lấy tấm ảnh cũ, cẩn thận cất vào chiếc ví da nhét sâu trong túi áo gi-lê. Hơi ấm của kỷ vật tiền nhân dường như tiếp thêm một luồng sinh khí mới cho từng thớ cơ trong người tôi.
Như để minh chứng cho lời nhận định của Viện trưởng, chiếc máy tính bảng quân sự đặt trên băng ghế sau chiếc xe bán tải bỗng rú lên từng hồi còi báo động dồn dập.
Tít... tít... tít...
Anh Tuấn lao tới giật lấy máy tính bảng, mắt trừng trừng nhìn vào dải đồ thị đang nhảy múa:
— Thầy Nam! Minh An! Đúng y như bản vẽ của bác Hùng! Trạm quan trắc duyên hải Nam Trung Bộ vừa báo về: Vùng biển Vịnh Xuân Đài và đảo Hòn Yến vừa ghi nhận chuỗi xung chấn hạ âm 0.08 Hertz tăng vọt theo cấp số nhân! Áp lực nước ngầm dưới đáy biển sáu mươi mét đang làm nứt các cột bazan tổ ong!
Viện trưởng Trịnh Hoài Nam gập mạnh cuốn sổ nhật ký, ánh mắt già nua đượm vẻ quyết đoán của một nhà khoa học kiên cường:
— Không thể chậm trễ một giây nào nữa! Tâm nguyện của anh Hùng và an nguy của dải bờ cõi duyên hải đang nằm ở Sector 05. Chúng ta phải xuất phát ngay trong sáng nay, vượt đèo xuống Phú Yên trước khi con nước triều cường làm ngập lối vào rạn san hô bazan!
Tôi quay sang nhìn già Y Dăm.
Người thợ săn già người Ê Đê bước tới, hai bàn tay chai sạn nắm lấy bàn tay tôi. Ông tháo một chiếc vòng chỉ ngũ sắc bện từ vỏ cây rừng trên cổ tay mình, cẩn thận đeo vào cổ tay tôi, rồi nhét vào túi áo tôi một gói hạt ngô nương khô:
— Cậu trai... Mày đã cứu lấy rừng Chư Yang Sin, cứu lấy nguồn nước của con cháu buôn làng tao. Đi xuống biển xa, hãy mang theo nắm hạt ngô này của đất mẹ Tây Nguyên. Thần rừng Yang và linh hồn cha mày sẽ luôn dõi theo che chở cho mày chân cứng đá mềm.
— Con cảm ơn già. Già ở lại buôn giữ gìn sức khỏe! — Tôi siết chặt bàn tay gầy gò ấm áp của người thợ săn già, lòng dâng trào niềm xúc động sâu sắc.
Chúng tôi nhanh chóng bắt tay vào thu dọn hành lý. Những hòm máy đo chấn động, thùng đồ nghề cơ khí, búa tạ và các cuộn cáp chịu lực được anh Tuấn và tôi khuân gọn gàng lên thùng xe bán tải, phủ bạt dù chằng néo kỹ lưỡng.
Mười lăm phút sau, tiếng động cơ bốn chấm không gầm lên dũng mãnh giữa đại ngàn.
Chiếc xe bán tải hai cầu từ từ lăn bánh, bỏ lại sau lưng trạm kiểm lâm dã chiến và bóng dáng già Y Dăm đứng vẫy tay bên gốc cây kơ-nia. Bụi đỏ bazan cuộn tròn sau đuôi xe khi chúng tôi rẽ vào Quốc lộ 26, nhắm thẳng hướng đông mà xông tới.
Mặt trời đã lên cao giữa đỉnh trời, dát vàng lên những cánh rừng cà phê bạt ngàn của Đắk Lắk. Trước mũi xe chúng tôi, rặng núi Trường Sơn Đông sừng sững dần hiện ra, nơi con đèo Phượng Hoàng hiểm trở đang uốn lượn như một dải lụa khổng lồ ngăn cách cao nguyên hùng vĩ với biển trời bao la.