Tiếng búa đập vào đe thép vang lên từng hồi dồn dập giữa gian xưởng lợp mái tôn xi măng ở ven con kênh An Hạ, huyện Hóc Môn:
KENG! KENG! KENG!
Từng chùm tàn lửa đỏ rực bắn tung tóe trong không gian mù mịt khói than củi và mùi dầu nhớt thải. Nhiệt độ xung quanh lò nung than đá hầm hập như thiêu đốt, quạt công nghiệp thổi vù vù cũng không xua nổi cái nóng ngột ngạt của buổi trưa đứng bóng.
Tôi cởi trần, hai bàn tay nắm chặt cán một chiếc búa tạ mười cân bằng gỗ nghiến, liên tục nện từng nhát búa nặng tựa ngàn cân xuống thỏi thép đang đỏ rực như thỏi than hồng trên mặt đe.
Mồ hôi túa ra như tắm, chảy ròng ròng qua lồng ngực gầy guộc nhưng săn chắc, làm ướt đẫm cạp chiếc quần jean cũ. Những vết bầm tím trên bả vai phải và dọc theo mạng sườn — dấu tích sau trận đỡ dầm bê tông cứu anh Hoàng ở hầm rượu Quận 3 — dưới sức nóng của lò than và lực vận chuyển khí huyết của từng nhát búa bắt đầu râm ran ngứa ngáy.
Từng luồng ứ huyết đen đặc bị kình lực Luyện Cốt ép ra ngoài lỗ chân lông, bốc lên thành từng làn hơi mỏng khét lẹt.
Đó là cách tôi tự chữa lành chấn thương nội tại: mượn nhiệt độ của lửa trần gian và xung lực va đập của đe búa để ép tà khí, hàn khí ra khỏi màng xương.
— Tốt lắm An! Hạ búa thấp xuống hai phân! Dồn lực từ gót chân qua eo rồi mới phát kình ra đầu ngón tay! Đừng dùng sức cơ bắp đơn thuần, phải để thỏi thép cảm nhận được nhịp thở của mình!
Người đang đứng kẹp thỏi thép bên kia đe là bác Sáu Kiên — một lão thợ rèn gần bảy mươi tuổi, tóc bạc như cước, hai cánh tay cuồn cuộn gân guốc đen bóng vì cả đời quai búa. Bác Sáu là bạn kết nghĩa từ thuở thanh niên của cha tôi, thời hai người còn cùng nhau đi làm thợ rừng, thợ mộc ở vùng cao nguyên buôn Đôn.
Sáng nay, tôi lái chiếc xe Wave chạy hơn ba mươi cây số từ phòng trọ Nơ Trang Long lên Hóc Môn tìm bác, mang theo chiếc dao gấp mini đã mẻ mũi, lung lay cán sau chuỗi biến cố liên tiếp.
Bác Sáu cầm chiếc dao gấp của tôi lên soi dưới ánh nắng, lắc đầu chép miệng:
“Con dao này của mày gọt hoa quả hay cắt dây cước thì được, chứ đem đi bẩy đá cạy thép thì gãy đôi lúc nào không hay. Mày làm kỹ sư địa chất công trình ngầm, chui rúc dưới móng cống, phải có một món đồ nghề vừa tay, đủ nặng để đục đá, đủ dày để nạy bê tông, và phải chịu được va đập cực hạn!”
Thế là bác lôi từ góc xưởng ra một thanh nhíp xe tải Zil của Nga từ thời chiến tranh — loại thép lò xo hàm lượng carbon cao, dẻo dai và chịu lực va đập vào loại bậc nhất.
Hai bác cháu đã đốt lò nung đỏ thỏi thép suốt từ sáng sớm đến giờ.
KENG! KENG!
Sau nhát búa thứ ba trăm sáu mươi, thỏi thép dần dần thành hình: một thanh đục thép hợp kim dài ba mươi lăm phân, thân đục hình bát giác dày bằng ngón chân cái, một đầu là mũi đục bằng phẳng tôi nguội bén ngót, đầu kia là chuôi dẹt có gờ chống trượt.
Bác Sáu dùng kẹp sắt gắp thanh thép đỏ ối nhúng thẳng vào thùng dầu cám tôi thép:
XÈÈÈO...!
Một cột khói trắng đục bốc lên ngùn ngụt, mùi dầu nồng nặc lan tỏa khắp gian xưởng. Khi thanh thép nguội dần và được vớt ra, toàn thân nó phủ một màu đen tuyền mờ ảo, nặng gần hai cân rưỡi, gõ nhẹ vào đe phát ra tiếng ngân trong trẻo, đanh thép như tiếng chuông đồng.
Bác Sáu lấy một cuộn dây dù màu đen chuyên dụng của lính công binh, tỉ mỉ quấn chặt ba lớp quanh phần tay cầm của thanh đục, tạo nên một độ bám tay tuyệt hảo. Bác đưa thanh đục cho tôi, đôi mắt nheo lại đầy vẻ ưng ý:
— Cầm lấy. Bác tôi theo đúng bài bí truyền của thợ rèn lò cao: bên ngoài cứng như kim cương, bên trong dẻo dai không bao giờ giòn gãy. Từ nay mày mang theo bên người, đào đất, cạy đá hay tự vệ nơi hang cùng ngõ hẻm đều không có thứ gì bẻ gãy nổi nó đâu!
Tôi đón lấy thanh đục thép hợp kim.
Trọng lượng hai cân rưỡi đầm chặt trong lòng bàn tay. Khi tôi khẽ vận chuyển một tia kình lực Luyện Cốt từ lòng bàn tay rót vào thân đục, lớp thép bát giác dường như khẽ rung lên một nhịp đồng điệu với nhịp đập nơi xương cốt của tôi.
Đó không phải là pháp bảo tiên gia, mà là một vũ khí phàm trần được rèn đúc từ sức lao động chân chính và mồ hôi của con người thế kỷ hai mươi mốt.
Tôi rút từ trong túi quần ra tờ tiền hai trăm ngàn biếu bác Sáu tiền than dầu, nhưng ông cụ gạt phắt đi, quắc mắt mắng:
— Tiền nong cái gì! Mày là con thằng Hùng, ngày xưa cha mày từng đỡ cho tao một khúc gỗ nghiến lăn từ trên rẫy xuống, cái mạng già này của tao là nhờ cha mày cứu. Mày giữ lấy phòng thân cho tử tế là tao mừng rồi!
Tôi lặng người nhìn ông cụ, trong lòng dâng lên một nỗi xúc động nghẹn ngào. Tôi cất thanh đục vào ngăn cạnh của balo dã chiến, cúi đầu chào bác rồi dắt xe rời xưởng rèn.
Gió đêm từ hướng sông Sài Gòn thổi về rười rượi khi tôi dắt chiếc Wave cũ về đến căn xóm trọ trên đường Nơ Trang Long.
Sau một ngày vận động cực hạn ở lò rèn, những vết bầm tím trên vai tôi đã chuyển sang màu vàng nhạt, lớp ứ huyết tiêu biến gần hết. Tôi múc một gáo nước lạnh dội từ đỉnh đầu xuống, cảm giác sảng khoái và nhẹ nhõm lan tỏa khắp từng tế bào nhục thân.
Tôi ngồi xuống bàn làm việc, kiểm điểm lại toàn bộ hành trang trước mặt.
Chiếc dao gấp mini bị mẻ mũi nay đã được tra dầu, mài lại cạnh bén và cất vào hộp dụng cụ sửa xe để dùng cho các việc vặt hàng ngày.
Thanh đoản đao rỉ xanh thu được từ Chợ Lớn vẫn quấn chặt trong ba lớp vải bố. Khi tôi đặt thanh đục thép mới rèn bên cạnh thanh đao cổ, lớp thép carbon đen nhánh dường như tạo thành một hàng rào tự nhiên, ngăn chặn hoàn toàn những đợt sóng âm sát rỉ ra từ lớp đồng cổ.
Tôi đưa tay chạm vào chiếc trâm ngọc cổ nơi ngực áo.
Chiếc trâm vẫn lạnh buốt, nhưng sự lạnh buốt ấy lại vô cùng quen thuộc và dịu dàng.
Tôi tắt đèn bàn, ngồi xếp bằng trên nệm mút, nhắm mắt nhập định.
Tâm thức lại chìm sâu vào hồ sen tịch mịch nơi thức hải.
Làn sương trắng mờ ảo bao phủ khắp mặt nước. Ở trung tâm, đài sen Thanh Liên Đài phát ra những gợn sóng quang mang xanh nhạt dịu dàng.
Lâm Tịch vẫn nằm yên tĩnh trên đài sen. Nàng gối đầu lên một phiến lá ngọc, tà áo trắng buông rủ mượt mà. Trong không gian hoàn toàn cách biệt với thế giới bụi bặm bên ngoài, hơi thở của nàng đều đặn, mong manh tựa như một tia nắng thu đọng lại giữa mùa đông băng giá.
Tôi ngồi xếp bằng trên bờ hồ, lặng lẽ nhìn ngắm gương mặt nàng trong tĩnh lặng.
Bất chợt, ngay giữa không gian tịch mịch của thức hải, một cánh sen ngọc màu lam khẽ rung lên một nhịp khác thường. Một sợi tàn niệm mỏng manh như tơ khói từ ngón tay trỏ của Lâm Tịch bay vút lên, chạm vào tâm thức tôi kèm theo một hình ảnh chấn động vừa lóe qua: dưới chân một rặng núi đá hoa cương xa xôi mờ mịt sương khói, một vệt nứt màu đen nhánh đang ngấm ngầm mở miệng giữa lòng đất.
Tôi giật mình choàng tỉnh giữa căn phòng trọ tối om.
Trên mặt bàn gỗ, chén nước trà nguội ngắt vừa tự nứt toác làm đôi từ đáy, nước trà chảy tràn qua mép thép lạnh lẽo của thanh đục mới rèn.