Mùi thuốc bắc ngai ngái hòa lẫn với mùi ẩm mốc của những bức tường vôi vàng rêu phong đặc trưng của khu Chợ Lớn bám riết lấy từng nhịp thở của tôi khi chiếc xe Wave cũ rẽ vào đường Phùng Hưng.
Cơn mưa rào bất chợt của mùa thu Sài Gòn vừa dứt, để lại những vũng nước đục ngầu phản chiếu ánh đèn neon đỏ rực từ các biển hiệu chữ Hán viền vàng. Phố xá ken đặc người và xe. Tiếng còi xe máy inh ỏi, tiếng rao hàng hủ tiếu mì gõ bằng tiếng Quảng Đông, tiếng kim loại lách cách từ những sạp bán linh kiện ngũ kim phía đường Trang Tử dội vào tai như một bản hòa âm hỗn tạp của cuộc mưu sinh phàm trần.
Tôi dừng xe bên hiên một tiệm bán giấy tiền vàng mã đã đóng cửa phân nửa, tắt máy xe, gạt chân chống nghiêng.
Sau chiến dịch khẩn cấp tại đáy ngã ba sông Nhà Bè, Viện trưởng Trịnh Hoài Nam đã ký quyết định đặc cách cho Giám đốc Kỹ thuật Dữ liệu như tôi được nghỉ phép dưỡng sức một tuần để phục hồi thể trạng sau chuyến lặn buồng áp suất sâu bốn mươi mét. Nhưng bản tính cẩn trọng không cho phép tôi ngồi yên trong phòng trọ khi hệ thống radar trắc địa của Viện vừa bắt được chuỗi xung chấn chu kỳ 43 phút kỳ lạ ở khu vực Chợ Lớn sáng nay. Tôi khoác lên mình chiếc áo gió sờn vai, một mình cưỡi chiếc xe Wave cũ đi khảo sát thực địa để tuyệt đối không làm kinh động đến bất kỳ ai.
Bên trong túi quần jean, chiếc điện thoại cũ rung lên hai nhịp ngắn. Đó là tin nhắn của mẹ gửi từ quê nhà cù lao Tiền Giang:
“An à, mùa này nước lũ trên sông Tiền bắt đầu dâng cao, gió chướng lạnh lắm. Ở trọ dưới đó con nhớ ăn uống đầy đủ, đừng thức khuya làm việc quá sức nghe con. Khi nào rảnh gửi cho má ít dầu gió.”
Tôi nhìn màn hình nứt góc một lúc lâu, trong lòng ấm lại. Tôi gõ vội dòng tin nhắn trả lời: “Dạ má, con ở dưới này vẫn khỏe, công ty nhiều việc nhưng con tự lo được. Cuối tuần con gửi thuốc bổ với dầu gió về cho má.”
Cất điện thoại vào túi áo, tôi luồn tay vào đáy chiếc balo dã chiến đang khoác trên vai.
Dưới lớp vải nhung đen, mẩu vụn Chu Sa Thạch Anh đang tỏa ra một nhiệt lượng âm ỉ khác thường. Không phải là cái nóng của lửa, mà là một cảm giác nằng nặng như có một thỏi nam châm khổng lồ nằm sâu dưới lòng đất đang kéo ghì lấy các khớp ngón tay của tôi.
Hướng lực kéo chỉ thẳng vào con hẻm nhỏ số 138 — một hẻm cụt sâu hút, hai bên là những ngôi nhà cổ có mái ngói âm dương rêu phong xây dựng từ đầu thế kỷ trước.
Tôi kéo khóa balo, kiểm tra lại chùm chìa khóa có gắn lưỡi dao gấp thép mini bên hông quần, rồi rảo bước đi sâu vào trong con hẻm.
Càng đi sâu, tiếng ồn ào của đại lộ Hồng Bàng càng nhỏ dần, thay vào đó là một sự tĩnh lặng đến rợn người.
Cuối hẻm là một căn nhà hai tầng bằng gạch nung sẫm màu, cửa gỗ lim khép hờ, bên trên treo một tấm biển gỗ xước sơn đã mờ chữ: “Cổ Mộc Đường — Giám định & Phục chế đồ cổ”. Trước hiên nhà, một chậu cây si cổ thụ với chùm rễ chằng chịt rủ xuống mặt đất tựa như những chiếc lồng giam vô hình.
Tôi đứng trước bậc tam cấp bằng đá xanh, khẽ chùng vai để lắng dịu khí tức theo Quy Tức Pháp.
Khí tức khí huyết cuồn cuộn nơi tủy xương lập tức thu liễm vào sâu trong lục phủ ngũ tạng, nhịp tim chậm lại, biến tôi trở về nguyên trạng của một kỹ sư trắc địa gầy gò, mắt đeo kính cận, vai đeo balo sờn.
Cọt kẹt...
Tôi đẩy nhẹ cánh cửa gỗ bước vào.
Bên trong tiệm tối nhờ nhờ, chỉ có một ngọn đèn dầu hỏa leo lét đặt trên chiếc bàn trà bằng gỗ gụ giữa phòng. Bốn bức tường xung quanh chất đầy những kệ gỗ mun chứa hàng trăm món đồ cổ tạp nham: từ những chiếc bình gốm men rạn thời Nguyễn, những pho tượng Phật bằng đồng hun đen đúa, cho đến những chồng sách chữ Hán ố vàng mối mọt.
Nhưng thứ khiến không khí trong phòng trở nên ngột ngạt không phải là bụi bặm.
Đó là một làn uế khí nhàn nhạt, tanh nồng mùi bùn đáy sông và mục rữa — thứ tử khí quen thuộc mà tôi từng ngửi thấy ở hố móng Thủ Thiêm.
Phía sau bàn trà, một người đàn ông trung niên trạc ngũ tuần đang cặm cụi dùng kính lúp soi vào một nghiên mực đá màu đen nhánh. Ông ta mặc chiếc áo cổ tàu bằng vải đũi nâu, ngón tay cái bên phải đeo một chiếc nhẫn ngọc cẩm thạch thô ráp. Nghe tiếng bước chân của tôi, ông ta không ngẩng đầu lên, chỉ cất giọng khàn khàn đặc sệt phong thổ Chợ Lớn:
— Cậu em tìm đồ phong thủy trấn trạch hay bán đồ cũ đào móng công trình? Tiệm này không thâu đồ gốm sứ mới nung giả cổ đâu.
Tôi bước lại gần chiếc bàn gỗ, kéo chiếc ghế đẩu bằng mây ngồi xuống đối diện ông ta:
— Chú Bảy Thâm phải không? Anh Tư bên đội nạo vét cống hộp rạch Hàng Bàng giới thiệu tôi qua. Tôi nghe nói tuần trước đội sà lan vớt được một khối trụ đá cổ có khắc phù hiệu dưới chân cầu Chà Và, chuyển về tiệm của chú giám định?
Bàn tay đang cầm chiếc kính lúp của Bảy Thâm bỗng khựng lại.
Ông ta chậm rãi đặt chiếc kính lúp xuống mặt bàn trà bằng gỗ gụ, đôi mắt ti hí đảo một vòng quét từ đầu đến chân tôi. Ánh mắt ông ta sắc như dao cau, dừng lại rất lâu nơi các khớp ngón tay đầy vết bầm tím của tôi:
— Cậu em làm bên ban quản lý dự án hay bên trắc địa? Đồ vớt dưới đáy bùn kênh Tàu Hủ đều là phế tích rỉ sét của dân chài xả rác trăm năm nay, có gì đáng để người trẻ như cậu mò đến tận đây lúc chập tối?
— Nếu chỉ là phế tích rác rưởi, thì tại sao trạm quan trắc địa chấn khu vực Phùng Hưng của chúng tôi cứ đúng bốn mươi ba phút lại ghi nhận một nhịp rung chuyển địa tầng phát ra từ chính căn nhà này? — Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta, giọng nói bình thản nhưng chắc nịch như đá tảng.
Sắc mặt Bảy Thâm thoáng biến đổi. Ông ta cười nhạt một tiếng, với tay rót một chén trà đặc đã nguội ngắt đẩy về phía tôi:
— Giới trẻ các cậu thời nay máy móc tối tân quá, đến tiếng động dưới lòng đất cũng đo được. Nhưng có những thứ... biết nhiều quá chỉ tổ rước họa vào thân.
— Tôi không muốn can dự vào việc buôn bán đồ cổ của chú. — Tôi hạ giọng. — Tôi chỉ cần biết: thứ mà đội sà lan vớt lên rốt cuộc là vật gì? Và các người đã mang nó đi đâu?
Bảy Thâm chưa kịp mở miệng trả lời thì từ gian nhà kho phía sau tấm rèm vải bố bất ngờ vang lên một tiếng đổ vỡ chát chúa!
XOẢNG!
Tiếng bát đĩa vỡ vụn kèm theo tiếng gầm gừ trầm đục tựa như dã thú mắc bẫy khiến ngọn đèn dầu trên bàn trà chao đảo dữ dội.
— Đệt mợ! Giữ chặt nó lại! Mau lấy dây thừng bọc chu sa trói tay nó vào cột! — Một giọng đàn ông thô lỗ, hốt hoảng quát lên từ phía sau tấm rèm.
Bảy Thâm giật thót mình, vội vàng đứng bật dậy định chạy vào gian sau. Nhưng cánh cửa hậu bỗng nhiên bị một lực đạo kinh hoàng húc tung bản lề, đập rầm vào vách tường gạch!
Một gã thanh niên vạm vỡ, mình trần trùng trục loạng choạng lao ra ngoài.
Toàn thân gã ướt sũng bùn đen, hai mắt đỏ ngầu vằn lên những tia máu hung tợn, khóe miệng sùi bọt mép trắng xóa. Nhưng điều kinh hãi nhất là dọc theo cánh tay phải của gã, từng đường gân xanh đen nổi phồng lên như những con giun đất đang bò ngoằn ngoèo dưới lớp biểu bì, tỏa ra một luồng khí lạnh buốt xương. Trong tay gã đang ghì chặt một thanh đoản đao bằng đồng rỉ xanh dài chừng một thước — thứ vũ khí vừa được cạo sạch lớp bùn phong ấn dày cộp.
— Thằng Ba! Mày điên rồi à?! Bỏ con dao xuống! — Bảy Thâm thét lên, sợ hãi lùi giật lùi về phía góc phòng.
Gã thanh niên hoàn toàn mất trí. Luồng tà niệm từ thanh đoản đao cổ đã xâm thực thẳng vào thần kinh của gã. Gã gầm lên một tiếng man dại, vung thanh đoản đao rỉ xanh chém thẳng vào đầu Bảy Thâm!
Nếu nhát chém này trúng đích, người thợ đồ cổ chắc chắn sẽ mất mạng tại chỗ.
Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, tôi không kịp suy tính thiệt hơn.
Bản năng rèn luyện từ mười hai thức Đoán Cốt lập tức bộc phát!
BỘP!
Tôi đạp mạnh gót chân xuống sàn gạch men. Lực phản chấn từ nền đất truyền thẳng qua xương cẳng chân lên đốt sống hông, đẩy thân hình tôi phóng vọt về phía trước nhanh như một mũi tên xé gió.
Tôi không dùng phép thuật hoa mỹ, bởi nơi đây là chốn phàm trần. Tôi chỉ dùng thuần túy sức mạnh của thể xác!
Tay trái tôi giơ lên thành trảo, đón đỡ đường đao của gã điên.
KENG!
Lưỡi đao đồng rỉ xanh chém trúng cẳng tay áo sơ mi của tôi. Lớp vải cotton rách toạc, nhưng bên dưới lớp da thịt, khung xương Luyện Cốt Trung kỳ — Cốt Nhược Kim Thạch — đã tự động kết khối cứng như thép nguội, chặn đứng toàn bộ lực chém bén ngót của lưỡi đao mà chỉ để lại một vệt hằn đỏ ửng!
Gã thanh niên trố mắt nhìn tôi như nhìn thấy quái vật.
Lợi dụng khoảnh khắc gã khựng lại, tay phải tôi đã rút chùm chìa khóa bên hông quần ra. Ngón tay cái bật mở lưỡi dao gấp thép mini dài năm phân, chuôi dao bằng thép kẹp chặt giữa hai ngón tay trỏ và giữa, phát kình theo thế Đoán Cốt Thập Nhị Thức — Đệ Tam Thức: Hổ Phục Trảo!
Tôi không đâm lưỡi dao vào da thịt gã.
Tôi dùng sống dao bằng thép hợp kim đập mạnh vào huyệt Đại Lăng ngay khớp cổ tay phải của gã điên.
RẮC!
Một tiếng gãy khớp giòn giã vang lên. Cổ tay gã thanh niên trẹo sang một bên, thanh đoản đao đồng rỉ xanh rơi choang xuống sàn nhà.
Không để gã kịp gầm lên, tôi xoay người dẫm gót trụ, cùi chỏ phải giật mạnh về phía sau, thúc chuẩn xác vào vùng chấn thủy của gã. Cú thúc chỏ nặng như một quả tạ gang năm mươi cân khiến toàn bộ không khí trong phổi gã bị tống sạch ra ngoài. Hai mắt gã trợn ngược, toàn thân mềm nhũn rồi đổ gục xuống sàn nhà bất tỉnh nhân sự.
Căn phòng chìm vào sự im lặng nghẹt thở.
Chiếc dao gấp mini trong tay tôi rung lên bần bật vì chấn lực phản hồi. Lưỡi thép năm phân xuất hiện một vết mẻ nhỏ ở phần mũi dao do va đập với lớp đồng rỉ cứng quái đản của thanh đoản đao.
Tôi thở dốc hai nhịp, từ từ hạ tấn, đưa tay vuốt lại nếp áo sơ mi rách toạc bên cánh tay trái.
Bảy Thâm ngồi bệt dưới đất, lưng tựa vào chân bàn trà, hai hàm răng va vào nhau lập cập, nhìn tôi với ánh mắt kinh hoàng tột độ:
— Cậu... cậu không phải là người phàm... Cậu là người của môn phái nào?!
Tôi bước lại gần, nhặt thanh đoản đao đồng rỉ xanh dưới sàn lên.
Lưỡi đao lạnh ngắt như một thanh băng, trên thân đao khắc chìm bốn chữ Hán cổ ngoằn ngoèo: “Trấn Thủy Hạ Du”. Đó chính là một trong những chiếc cọc định hải phụ trợ cho Thủy Môn Nhà Bè, từng bị nước lũ cuốn trôi dạt vào kênh Tàu Hủ từ hàng trăm năm trước.
— Tôi là người kiểm định địa chất thành phố này. Bây giờ, chú đã sẵn sàng kể cho tôi nghe về những kẻ đứng sau thu mua những món đồ này chưa?
Bảy Thâm run lẩy bẩy, quỳ mọp xuống sàn nhà, hai bàn tay chắp lại vái lia lịa:
— Dạ... dạ... tui khai! Là người của Tập đoàn Cửu Long... Họ cho chân rết lùng sục khắp các công trình nạo vét kênh rạch, cứ hễ thợ đào trúng cọc đồng hay trụ đá cổ có khắc triện là họ cho người tới ép giá mua đứt. Món nào không mua được thì họ cho giang hồ tới cướp đoạt... Tui chỉ là kẻ trung gian ăn hoa hồng thôi cậu ơi!
Tôi siết chặt thanh đoản đao rỉ xanh vừa đoạt lại, lạnh giọng:
— Nếu còn dám tiếp tay cho bọn chúng buôn bán cổ vật phong ấn của sông ngòi, đôi tay này của chú sẽ không chỉ gãy một chiếc xương đâu.
Nói đoạn, tôi cẩn thận bọc thanh đoản đao vào tấm vải bạt chống ẩm nhét sâu vào ba lô dã chiến, quay lưng sải bước rời khỏi căn tiệm đồ cổ tăm tối. Mưa đêm Chợ Lớn vẫn lất phất bay trên đường Phùng Hưng khi tôi nổ máy chiếc Wave cũ, hòa mình vào dòng người hối hả xuôi về phía trung tâm thành phố.