PHÁ TRỜI 100 CHƯƠNG
Chương 47: Hương Trà Lúc Canh Ba

Quyển 1 · Hồi 2 · 2,458 từ 0%

Trang Chủ
❖ QUYỂN 1 · HỒI 2 ❖

Chương 47: Hương Trà Lúc Canh Ba

2,458 từ · Khoảng 8 phút đọc ·Phòng trọ Nơ Trang Long, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
·

Cơn đau buốt từ khớp xương bả vai phải giật từng cơn nhức nhối, kéo tôi bật tỉnh giữa cơn mê sâu của đêm khuya.

Gió đêm từ hướng bán đảo Thanh Đa thốc qua khe cửa sổ kính mờ, mang theo hơi ẩm nằng nặng của dòng sông Sài Gòn đang vào mùa triều cường dâng cao. Căn phòng trọ tầng hai trên đường Nơ Trang Long chìm trong một màu lam đen tĩnh mịch. Tiếng quạt cây cũ kỹ thi thoảng lại phát ra âm thanh cọt kẹt khô khốc, tựa như một người già đang nhọc nhằn đếm từng nhịp thở giữa đêm trường.

Tôi ngồi dậy trên mép chiếc nệm mút trải dưới sàn gỗ, hai bàn tay vô thức chống xuống đầu gối.

Từng thớ cơ trên lưng và dọc theo hai bắp tay căng cứng như dây đàn vừa bị kéo quá cữ. Sau đợt biến động dữ dội dưới đáy sâu bốn mươi mét Nhà Bè và nhát chấn lực kinh hoàng lúc cửa xả kè đá sập xuống, lớp màng xương của tôi tuy đã hấp thụ khí huyết đột phá đến cảnh giới Cốt Nhược Kim Thạch, nhưng cái giá phải trả của một thể xác phàm nhân chưa từng qua tôi luyện chính quy là vô số những vết bầm tím tụ huyết sâu dưới da thịt.

Mỗi một lần xoay khớp cổ tay, tôi đều nghe thấy tiếng lạo xạo rất nhỏ của các đầu xương đang tự co rút, tái tạo tế bào dưới áp lực của luồng khí huyết mới.

Đó không phải là sự thần kỳ bay bổng như trong những trang sách cổ. Đó là một quá trình xé rách rồi liền da đầy đau đớn, chậm rãi và trần trụi.

Tôi với tay bật chiếc đèn bàn màu vàng nhạt, xỏ đôi dép tổ ong bước xuống sàn gạch men lạnh ngắt.

Dưới gầm giường, chiếc bình gốm Bát Tràng ngâm rượu thuốc thảo dược cổ phương vẫn nằm im lìm trong góc tối. Tôi mở nắp gốm, mùi thơm ngai ngái, nồng cay của Đỗ Trọng, Cốt Toái Bổ và Quế Chi ngâm cùng rượu nếp nguyên chất lập tức xộc vào cánh mũi, xua tan đi phần nào cái lạnh buốt đang bám riết nơi sống lưng. Tôi rót một lượng nhỏ chừng nửa chén con vào lòng bàn tay, rồi bắt đầu chậm rãi xoa bóp dọc theo các khớp ngón tay, cổ tay và lan dần lên hai bả vai.

Hơi rượu nóng rực thấm qua lỗ chân lông, kéo theo một cảm giác tê rần rần tựa như hàng vạn đốm lửa li ti đang thiêu đốt những sợi gân bầm dập. Tôi cắn chặt răng, mồ hôi lạnh rịn ra ướt đẫm hai bên thái dương nhưng hai bàn tay vẫn kiên trì miết từng đường kình lực theo đúng mười hai thức Đoán Cốt căn bản.

Khoảng nửa giờ sau, khi lớp da thịt bớt dần cơn co rút, tôi bước lại chiếc bàn làm việc ọp ẹp bên khung cửa sổ.

Trên mặt bàn, chiếc bật lửa Zippo vỏ đồng cũ kỹ nằm cạnh chùm chìa khóa có gắn lưỡi dao gấp thép mini. Tôi cầm chiếc bật lửa lên, ngón tay cái khẽ búng nắp.

Keng! Tách!

Ngọn lửa vàng cam bừng lên trong đêm tối, soi rõ gương mặt gầy guộc, hốc mắt thâm quầng và những vệt xước dăm li ti trên lớp vỏ kim loại của chiếc bật lửa — kỷ vật duy nhất mà người cha làm thợ mộc ở vùng đất đỏ Tây Nguyên để lại cho tôi trước ngày ông qua đời.

Hồi còn sống, mỗi lần đục xong một mộng gỗ lim hay hoàn thành một chiếc xà nhà nặng trịch, cha tôi thường ngồi trên bậu cửa, châm một điếu thuốc bằng chiếc Zippo này rồi nhìn ra cánh rừng xa xăm. Ông từng bảo: “Làm thợ mộc, muốn dựng được căn nhà đứng vững trăm năm giữa mưa gió bão bùng, cái đinh cái mộng phải đóng cho khít, thanh gỗ phải phơi cho cạn dầu. Vội một chút là mục ruỗng từ bên trong.”

Tôi nhìn ngọn lửa bập bùng vài giây rồi khẽ khép nắp lại. Tiếng kim loại va chạm giòn tan giữa đêm vắng như một mỏ neo kéo tâm trí tôi trở về với mặt đất, nhắc nhở tôi rằng dẫu có đang gánh vác những bí mật kinh thiên động địa nào, tôi vẫn là một con người bằng xương bằng thịt của chốn trần gian.

Tôi đưa tay áp lên ngực áo thun dã chiến.

Bên trong túi áo ngực trái, chiếc trâm ngọc cổ màu xanh xám vẫn nằm im lìm sát với nhịp đập của lồng ngực. Bề mặt thân trâm nhẵn bóng nhưng lộ rõ ba vết rạn nứt mảnh như sợi tơ — dấu tích sau trận cuồng triều dưới đáy Nhà Bè. Toàn bộ thanh quang rực rỡ thuở ban đầu đã hoàn toàn thu liễm, không còn phát ra lấy nửa tia linh áp.

Tôi ngồi xếp bằng ngay trên chiếc ghế gỗ, trầm tĩnh điều hòa nhịp thở rồi từ từ khép hai hàng mi lại.

Hơi thở của tôi chậm dần. Nhịp tim từ bảy mươi nhịp mỗi phút từ từ hạ xuống, hạ xuống cho đến khi chỉ còn mười mấy nhịp tĩnh lặng theo đúng khẩu quyết Quy Tức Pháp mà tôi đã tự mày mò nghiền ngẫm suốt những tuần qua.

Thế giới âm thanh ồn ã của thành phố bên ngoài cửa sổ dần dần lùi xa.

Trong tâm thức tối om, một làn gợn sóng trong suốt khẽ xao động.

Ý niệm của tôi chìm sâu vào thức hải.

Đó là một không gian mênh mông, tịch mịch tựa như mặt hồ phẳng lặng giữa đêm thu không một gợn gió. Ở chính giữa thức hải, một đài sen ngọc bích màu xanh nhạt — Thanh Liên Đài — đang lững lờ trôi giữa làn sương mờ ảo.

Và trên đài sen ấy, Lâm Tịch đang nằm say ngủ.

Nàng mặc một bộ y phục màu trắng ngọc đơn sơ, mái tóc đen dài rũ xuống phiến đá ngọc tựa như dòng suối tơ mượt mà. Đôi mắt sắc sảo, lạnh lùng từng khiến trời đất nghiêng ngả nay đã nhắm nghiền bình yên dưới hàng mi dài cong vút. Gương mặt nàng tái nhợt, trong suốt tựa hồ một tác phẩm điêu khắc bằng băng tuyết ngàn năm, mỏng manh đến mức dường như chỉ cần một ngọn gió lạ thổi qua cũng có thể làm tan biến vào hư không.

Tôi không dám bước lại quá gần.

Ý niệm của tôi chỉ dừng lại ở mép hồ nước trong vắt, ngồi lặng lẽ trên một mỏm đá vô hình, yên lặng nhìn ngắm bóng dáng nàng.

Trong suốt thời gian qua, từ khoảnh khắc một mảnh tàn hồn cô độc rơi vào thức hải của tôi giữa cơn mưa ngập đường Ung Văn Khiêm, người phụ nữ này đã liên tục đứng chắn trước mặt tôi. Nàng dùng chút tàn lực ít ỏi cuối cùng sau một đại chiến diệt thế ở phương xa để chỉ điểm cho tôi từng đường kinh mạch, cứu tôi thoát khỏi những cạm bẫy chết người nơi giếng cổ Ba Son và những tầng phong ấn đổ nát.

Nàng kiêu hãnh, sắc bén, không bao giờ than thở nửa lời về nỗi đau đớn khi nguyên thần bị xé rách từng mảnh. Nhưng khi nhìn nàng chìm sâu vào giấc ngủ trầm miên không biết ngày nào mới tỉnh lại này, tôi mới cảm nhận hết được sự mỏi mệt chất chồng qua hàng vạn năm chiến đấu cô độc của một linh hồn thượng cổ.

“Cô đã bảo vệ tôi quá nhiều rồi...” Tôi thì thầm trong thức hải, âm thanh không vang thành tiếng mà chỉ là một làn sóng ý niệm dịu dàng lan tỏa trên mặt nước: “Hãy ngủ đi. Quãng đường tiếp theo, tôi sẽ tự mình bước đi. Dù mảnh đất này có rạn nứt, dù phong ấn tầng thứ sáu có sụp đổ... tôi nhất định sẽ không để bất kỳ kẻ nào kinh động đến giấc ngủ của cô.”

Đài sen ngọc bích dường như cảm ứng được làn ý niệm chân thành ấy.

Một cánh sen màu xanh khẽ đung đưa rất nhẹ, tỏa ra một làn hương thanh nhã dìu dịu bao bọc lấy tâm thức tôi, xua tan hoàn toàn cảm giác nhức nhối nơi các khớp xương.

Tôi lặng lẽ ngồi ngắm nàng như thế cho đến khi những tia sáng bình minh đầu tiên xuyên qua khung cửa kính phòng trọ.


Nắng sớm rọi xiên qua kẽ lá trước sân xóm trọ khi tôi khoác chiếc balo làm việc sờn góc, dắt chiếc Wave Alpha màu đỏ mận ra khỏi cổng sắt.

Sài Gòn ngày mới lại ồn ào và tấp nập như chưa từng có bất kỳ biến cố nào xảy ra. Dòng người ken đặc trên đường Đinh Bộ Lĩnh hướng về phía ngã tư Hàng Xanh. Tiếng còi xe inh ỏi, mùi khói xăng nồng nặc và tiếng rao bán bánh mì giòn tan ven đường hòa quyện vào nhau, tạo nên bức tranh phàm trần đầy sức sống mà tôi hằng yêu quý.

Tôi lái xe đến tòa nhà văn phòng trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1.

Với tư cách là Giám đốc Kỹ thuật Dữ liệu phụ trách hệ thống cảm biến địa chấn và trắc địa công trình đô thị, bàn làm việc của tôi ngập tràn các bản đồ vệ tinh và biểu đồ địa tầng. Mọi người trong công ty vẫn nhìn tôi như một gã kỹ sư trầm lặng, tỉ mỉ và ít nói, người luôn sẵn sàng thức thâu đêm để rà soát từng dòng số liệu đo độ lún nền móng.

Tôi mở màn hình máy tính, đăng nhập vào cổng thông tin quan trắc địa kỹ thuật thời gian thực của khu vực TP.HCM.

Trên biểu đồ radar quét tầng ngầm độ sâu từ 30 đến 70 mét, dải áp suất thủy lực khu vực Nhà Bè và Thủ Thiêm sau khi được giải tỏa đã trở về trạng thái màu xanh lam ổn định. Nhưng ngay khi ánh mắt tôi quét sang góc tây nam thành phố — khu vực giáp ranh giữa Quận 5, Quận 6 và kênh Tàu Hủ — một chuỗi tín hiệu màu cam nhạt bất ngờ xuất hiện.

Tần số dao động sóng vi địa chấn ở đây không mạnh, chỉ vào khoảng 1.2 độ Richter, nhưng chu kỳ lặp lại lại kỳ quái đến mức bất thường: cứ đúng 43 phút, một xung chấn ngắn lại phát ra từ độ sâu 15 mét dưới lòng đất khu vực gần chợ Kim Biên và đường Phùng Hưng.

Đó không phải là chấn động của công trình xây dựng hay xe tải hạng nặng.

Bởi vì đi kèm với xung chấn cơ học ấy là một sự sụt giảm bất thường về nhiệt độ nền đất — một dấu hiệu mà tôi đã quá quen thuộc kể từ ngày tiếp xúc với hàn khí cổ phong ấn.

Tôi bấm mở ngăn kéo balo dã chiến đặt dưới chân bàn.

Ở đáy balo, mẩu vụn Chu Sa Thạch Anh bọc trong túi vải nhung đen bỗng rung giật từng hồi gấp gáp, tỏa ra nhiệt lượng nóng rực xuyên qua lớp vải dày.

Cùng lúc đó, trên màn hình máy tính trắc địa, tọa độ phát ra xung chấn chu kỳ 43 phút bỗng nhảy vọt biên độ lên mức báo động màu đỏ sẫm. Một lớp dữ liệu quét vi địa tầng vừa tự động dựng hình: ngay bên dưới nền móng của một căn nhà cổ trên đường Phùng Hưng, xuất hiện một hốc rỗng hình tròn đường kính mười hai mét, nhiệt độ nền đá sụt giảm xuống mức âm ba độ C — cái lạnh thấu xương của cổ trận đang âm thầm gặm nhấm lòng đô thị.

Tôi lập tức tắt ngúm màn hình, giật phắt chiếc áo gió vắt trên lưng ghế rồi lao nhanh xuống cầu thang hầm gửi xe.

❖ CẨM NANG & HỒ SƠ CHUYÊN ĐỀ

Khám phá hệ thống cọc tiêu trấn thủy bazan, lộ trình Thể Đạo và ghi chép nhân vật trong Phá Trời:

· ✦ ·
KẾT THÚC CHƯƠNG 47

Chương 48: Vết Mực Tàu Trên Đường Phùng Hưng

Quyển 1 · Hồi 2 · 2,684 từ · Khoảng 9 phút đọc

Thông báo